download Phân tích bài Phú sông Bạch Đằng File DOC

Phân tích bài Phú sông Bạch Đằng

 File DOC

Download Phân tích bài Phú sông Bạch Đằng - Bài văn mẫu chọn lọc hay lớp 10

Nguyễn Trường Giang  cập nhật: 01/02/2019

Tiếp theo, chúng tôi sẽ hướng dẫn các em học sinh phân tích bài Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu nhằm hỗ trợ các em học sinh trong quá trình hệ thống lại các kiến thức về giá trị nội dung và đặc sắc nghệ thuật, giúp em học tốt hơn tác phẩm này.


Đề bài: Phân tích bài Phú sông Bạch Đằng

 

 

phan tich bai phu song bach dang

Bài văn mẫu Phân tích bài Phú sông Bạch Đằng

 

Bài mẫu: Phân tích bài Phú sông Bạch Đằng

 

Sông Bạch Đằng không chỉ là nơi ghi dấu chiến thắng quân Nam Hán của Ngô Quyền mà còn là chứng nhân lịch sử trong cuộc chiến tranh đánh đuổi quân Nguyên Mông xâm lược của nước ta. Con sông này đã trở thành nguồn cảm hứng cho rất nhiều những nhà văn, nhà thơ trong đó có Trương Hán Siêu. Tên tuổi của ông được gắn liền với tác phẩm "Phú sông Bạch Đằng" đầy oai hùng nhưng cũng mang tâm trạng buồn thương, tiếc nuối của tác giả.

Phú là một thể loại thuộc văn học chức năng có nguồn gốc từ văn học Trung Quốc. Phú thường được viết bằng văn xuôi, văn vần hoặc văn biền ngẫu nhằm mục đích miêu tả ngoại cảnh, kể lại sự việc nào đó đồng thời cũng bộc lộ thế giới nội tâm, cảm xúc của tác giả. Phú bao gồm hai loại là phú cổ thể và phú Đường luật, bài "Phú sông Bạch Đằng" thuộc loại phú cổ thể.Tác phẩm này được Trương Hán Siêu viết trong tâm trạng bồi hồi, xúc động nhớ lại những chiến công oanh liệt trên sông Bạch Đằng. Bài phú này ra đời cũng nhằm mục đích củng cố lại niềm tin, sức mạnh của nhà Trần khi triều đại này đang có những biểu hiện của sự suy thoái.

Lối xưng hô chủ - khách đối đáp là lối xưng hô phổ biến, thường dùng ở thể phú. Đoạn đầu của tác phẩm là lời của nhân vật khách nhưng đồng thời cũng là những cảm xúc của Trương Hán Siêu trước không gian sông Bạch Đằng rộng lớn:

"Giương buồm giong gió chơi vơi,

Lướt bể chơi trăng mải miết.

Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương,

Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt

Cửu Giang, Ngũ Hồ,

Tam Ngô, Bách Việt.

Nơi có người đi,

Đâu mà chẳng biết".

Nhân vật khách đang ở trong một cuộc dạo chơi giữa chốn thiên nhiên bao la, hùng vĩ với một tâm hồn tự do, phóng khoáng và một tâm thế "giương buồm", "giong gió", "lướt bể" "chơi trăng". Đây là một con người thích du ngoạn, thưởng ngoạn thiên nhiên để có cơ hội được chiêm ngưỡng các vẻ đẹp của mọi nơi. Các địa danh nổi tiếng như Nguyên Tương, Vũ Huyệt, Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt, đầm Vân Mộng đều là các địa danh lịch sử xuất hiện trong kho tàng điển tích, điển cố của đất nước Trung Quốc. Tác giả đã du ngoạn đến những nơi chốn đó qua vốn hiểu biết từ sách vở, tri thức và trí tưởng tượng.Điều ấy chứng tỏ Trương Hán Siêu là người có học vấn uyên bác, sâu rộng.Ông yêu thiên nhiên và lấy đó làm thú vui của mình. Một con người có hoài bão tung hoành khắp bốn phương trời nên bất cứ nơi nào có người đi ông đều biết đến. Thắng cảnh đầm Vân Mộng tác giả đã "chứa vài trăm trong dạ" nhưng "tráng trí bốn phương" của ông "vẫn còn tha thiết". "Tráng trí bốn phương" của Trương Hán Siêu không bị khuất phục bởi những vùng đất xa xôi chứa đầy sự huyền bí mà tráng trí ấy còn phơi phới niềm khát khao được đặt chân đến đó và tận hưởng vẻ đẹp của thiên nhiên.

Cánh buồm "chơi vơi" của Trương Hán Siêu đã đến với con sông Bạch Đằng lịch sử:

"Qua cửa Đại Than,

Ngược bến Đông Triều,

Đến sông Bạch Đằng,

Thuyền bơi một chiều".

Cửa Đại Than, bến Đông Triều, sông Bạch Đằng là những địa danh của đất nước Việt Nam ta. Tác giả quả là một người có sự am hiểu phong phú về các địa danh của dân tộc. Tình yêu quê hương tha thiết và lòng tự hào với quá khứ vàng son của dân tộc được ông thể hiện qua những câu phú:

"Bát ngát sóng kình muôn dặm,

Thướt tha đuôi trĩ một màu.

Nước trời một sắc,

Phong cảnh ba thu".

Không gian sông Bạch Đằng là một không gian rộng lớn, bát ngát, mênh mông. Đó còn là một không gian hùng vĩ, tráng lệ. Tuy rằng địa thế sông Bạch Đằng hiểm trở nhưng những con thuyền vẫn tiếp nối nhau "thướt tha". Một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp với sự trữ tình, thơ mộng của phong cảnh mùa thuđang ở độ chín nhất, màu của mặt nước và màu của bầu trời đều có chung một "sắc", đó là màu trong xanh, tươi mát. Nhưng đó cũng là không gian gợi nỗi buồn ảm đạm:

"Bờ lau san sát,

Bến lách đìu hiu

Sông chìm giáo gãy,

Gò đầy xương khô.

Buồn vì cảnh thảm,

Đứng lặng giờ lâu.

Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá,

Tiếc thay dấu vết luống còn lưu".

Mùa thu thường gợi nỗi buồn cho tâm hồn nghệ sĩ, thời gian được Trương Hán Siêu miêu tả trong tác phẩm lại là tháng cuối cùng của mùa thu nên cảnh vật càng trở nên hiu hắt, vắng lặng. Bờ lau, bến lách cũng gợi sự hoang vắng đến hiu hắt.Không gian,thời gian ấy khiến tác giả hoài cổ về những cuộc chiến lừng lẫy, những chiến thắng hiển hách, oai hùng của nhân dân ta tại sông Bạch Đằng.

"Giáo gãy" đầy sông, "xương khô" đầy gò là những minh chứng xác thực cho sự chiến thắng của quân và dân ta trong công cuộc chống giặc ngoại xâm đầy gian khổ.Nhưng đó chỉ là những trang sử vàng son của quá khứ còn hiện tại không gian chiến trận ấy là "cảnh thảm" khiến tác giả buồn thương, "đứng lặng giờ lâu". Nhân vật khách bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với những anh hùng đã hi sinh vì tổ quốc. Nếu không có những con người quả cảm thì đất nước không được thái bình như hôm nay. Bước đi vô tình của thời gian đã xóa mờ đi dấu son của lịch sử nên tác giả tiếc thương quá khứ.

Tiếp nối mạch cảm xúc tự hào, hoài cổ của khách, các bô lão cũng kể lại các chiến tích một cách đầy hào hứng, sôi nổi:

"Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã,

Cũng là bãi đất xưa, thuở trước Ngô chúa phá Hoằng Thao".

Nhân vật các bô lão có thể là các nhân vật có thực, là những người chứng kiến, tham gia vào cuộc chiến đấu chống quân Nguyên - Mông trực tiếp kể lại hoặc cũng có thể là nhân vật hư cấu để thông qua đó Trương Hán Siêu bộc lộ những cảm nhận của mình về những trận chiến ấy một cách khách quan. Chiến địa Trùng Hưng bắt Ô Mã cũng là chiến địa Ngô Quyền phá Hoằng Thao năm xưa trong trận chiến với quân Nam Hán năm 938.Cuộc chiến giữa quân ta với quân Nguyên - Mông năm 1288 diễn ra gay go, quyết liệt:

"Thuyền bè muôn đội,

Tinh kì phấp phới.

Hùng hổ sáu quân,

Giáo gươm sáng chói"

Lời thề "Sát thát" như tiếp thêm sức mạnh cho quân đội nhà Trần trong cuộc chiến đấu. Tất cả hừng hực khí thế ra trận quyết tâm giành chiến thắng.Thế trận ấy khiến trận đánh "chửa phân" thắng bại. Bằng ý chí kiên cường, quân ta đã giành được thắng lợi, ghi dấu mốc son chói lọi vào những trang sử dựng nước của dân tộc:

"Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ

Bầu trời đất chừ sắp đổi".

Hình ảnh nhật nguyệt, bầu trời là những hình ảnh phóng đại mang ý nghĩa ca ngợi sự chiến thắng của quân ta đã làm xoay chuyển cả vũ trụ, trời đất. Theo "Đại Việt sử kí": "Các tướng như Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ... đều bị bắt sống, hàng vạn giặc bị tiêu diệt. Quân ta thu hơn 400 chiến thuyền". Đó là một chiến thắng vang dội, oai hùng, được so sánh với:

"Trận Xích Bích, quân Tào Tháo tan tác tro bay,

Trận Hợp Phì, giặc Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi".

Quân giặc thất bại trong ê chề, nhục nhã,Tất Liệt, Lưu Cung những tưởng "quét sạch Nam bang bốn cõi" nhưng trời chiều lòng người nên "hung đồ hết lối", nước sông Bạch Đằng tuy vẫn chảy nhưng "nhục quân thù khôn rửa nổi". Quân địch huênh hoang, kiêu ngạo bao nhiêu thì lại chuốc lấy bại vong, tổn hại bấy nhiêu.Lời kể của các bô lão xúc tích, ngắn gọn nhưng đã khái quát được diễn biến cam go của các trận chiến.

Quân ta có được chiến thắng oanh liệt đó là nhờ vào địa thế và nhân tài:

"Quả là: trời đất cho nơi hiểm trở,

Cũng nhờ: nhân tài giữ cuộc điện an!

Nhờ vào thời thế thuận lợi, địa hình hiểm trở và các anh hùng hào kiệt xuất chúng mà quân ta giành được hòa bình, độc lập. Công lao của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn có lẽ là lớn nhất:

"Khi trận Bạch Đằng mà đại thắng,

Bởi đại vương coi thế giặc nhàn.

Tiếng thơm còn mãi,

Bia miệng không mòn".

Công lao ấy khiến người đời mãi mãi không quên, "bia miệng" mãi mãi không mòn.Hưng Đạo vương đã nắm rõ được tình của quân địch để có cách ứng phó hiệu quả nhất. Hình ảnh của người anh hùng Trần Quốc Tuấn được tác giả so sánh với vương sư họ Lã và quốc sĩ họ Hàn của Trung Quốc nhằm mục đích ngợi ca, khẳng định tài năng, sức mạnh của con người. Con người chính là nhân tố quan trọng nhất quyết định sự thành công hay thất bại của trận chiến.

Các vị bô lão cũng đúc kết nên một chân lí vĩnh hằng:

"Những người bất nghĩa tiêu vong,

Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh"!

Nước sông Bạch Đằng như bị nhuộm đỏ bởi máu quân thù: "Sóng hồng cuồn cuộn trôi về biển Đông". Hốt Tất Liệt, Lưu Cung là những kẻ bất nghĩa và đều phải hứng chịu kết quả bị "tiêu vong", những người anh hùng như Ngô Quyền, Trần Quốc Tuấn thì mãi được người đời nhớ đến, lưu danh tên tuổi trong sử sách ngàn thu. Chính nghĩa sẽ luôn giành thắng lợi trước gian tà, cái ác sẽ luôn bị diệt vong trước lẽ phải.

Đoạn cuối của bài phú là lời của khách, nhân vật ca ngợi tài năng, công lao của hai vị vua nhà Trần là Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông:

"Anh minh hai vị thánh quân,

Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh.

Giặc tan muôn thuở thanh bình,

Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao".

Hai vị "thánh quân" này đã có công lãnh đạo quân ta đánh tan quân xâm lược hùng hổ bậc nhất lúc bấy giờ. Đất nước được thái bình, "điện an" là nhờ những nhân tài kiệt xuất như vậy. Thiên thời, địa lợi là hai yếu tố quan trọng đối với một trận chiến nhưng yếu tố có ý nghĩa quyết định sự thắng hay bại của trận chiến đó là yếu tố con người. Lợi thế của Đất hiểm cùng với sự anh minh, sáng suốt à lòng yêu nước của thánh quân nên quân ta đã có được chiến thắng vẻ vang. Qua đó thể hiện tư tưởng nhân văn cao đẹp và lòng tự hào dân tộc của Trương Hán Siêu.

Phú sông Bạch Đằng có kết cấu chặt chẽ, ngôn ngữ hào sảng, trang trọng. Bên cạnh đó là chất trữ tình được thể hiện qua giọng điệu anh hùng ca đã thể hiện được những tình cảm mà tác giả dành cho dân tộc. Những chiến công oanh liệt được tái hiện trước mắt bạn đọc qua cuộc đối đáp của nhân vật khách và các bô lão.Các phép đối được sử dụng triệt để, hình tượng nghệ thuật sinh động, mang ý nghĩa khái quát cao.

Bài phú này đã khẳng định tài năng văn chương của Trương Hán Siêu.Đồng thời cũng thể hiện tấm lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc với những chiến công oanh liệt của tác giả. Qua đó, ông muốn khẳng định chính nghĩa sẽ luôn giành chiến thắng trong mọi hoàn cảnh và con người chính là nhân tố quyết định đến sự thành công hay thất bại của cuộc chiến.

Xem thêm các bài phân tích, giáo án, soạn văn Phú sông Bạch Đằng:

- Phân tích bài Phú sông Bạch Đằng
- Giáo án Phú sông Bạch Đằng
- Soạn Văn lớp 10 - Phú sông Bạch Đằng


Liên kết tải về - [312 KB]

Bấm vào [Link File] để tải về phần mềm, hoặc tải phiên bản phù hợp phía dưới

Liên kết dự phòng:
Các phiên bản khác



Bài viết liên quan

 Thông tin giới thiệu, hướng dẫn sử dụng phần mềm Phân tích bài Phú sông Bạch Đằng được biên soạn nhằm giúp bạn có thêm thông tin tham khảo, việc daoloat phân tích bài phú sông bạch đằng là hoàn toàn miễn phí, bạn có thể chi tiết nội dung tại mục "Điều khoản".

Các phiên bảnHướng dẫn

   Tải về

Phân tích bài Phú sông Bạch Đằng File DOC

Bấm vào file dưới
Để cài phần mềm